Nhà tổ chức du lịch chuyên nghiệp

Ai đang trực tuyến

Hiện có 50 khách Trực tuyến

Visitors

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1734
mod_vvisit_counterNgày hôm qua2558
mod_vvisit_counterTất cả2348535
Lễ Hội - Văn Hóa



Lễ hội Đô thị Nước Mặn PDF. In Email
Viết bởi Nguyễn Phạm Kiên Trung   
Thứ hai, 08 Tháng 2 2010 20:34

Trong ba ngày 30 tháng Giêng và mùng 1, 2 tháng 2 âm lịch, tại thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, diễn ra Lễ hội “Đô thị Nước Mặn”. Đây là một trong những lễ hội cổ truyền có quy mô lớn và ra đời cách đây gần 4 thế kỷ, kể từ khi Cảng thị Nước Mặn còn ở thời kỳ phồn vinh.

 

alt

Lễ hội đua thuyền ở Phước Hòa (Tuy Phước). Ảnh: Đ.T.Đ

 

Cách đây trên 500 năm, nhiều cư dân người Việt và một số cư dân người Hoa theo đường biển vào đây lập nghiệp. Các làng Vĩnh An, Lạc Hòa từ đó cũng được hình thành. Nước Mặn là một đô thị thương cảng nổi tiếng ở Đàng Trong thời bấy giờ, từng có trong bản đồ hàng hải quốc tế của người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... Lễ hội được tổ chức ở chùa Bà, vùng đất trung tâm cảng thị thuở trước. Chùa Bà là nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, một nhân vật có công cứu vớt tàu thuyền mắc nạn trên biển khơi.

Thuở xưa, khi cảng thị còn phồn vinh, phố phường đông đúc, tới ngày lễ, dân cảng thị cả người Việt và người Hoa khiêng kiệu tới miếu Thành Hoàng, miếu Quán Thánh, miếu Bà Mụ, rước linh vị của các vị thần này về chùa Bà để chuẩn bị tế lễ. Nửa đêm 30 là lễ tế chính thức thần Thành Hoàng, Thiên Hậu, Quán Thánh, Bà Mụ. Sau ngày tế thần, sang ngày thứ hai và thứ ba là hội. Nghi thức đầu tiên là rước các biểu trưng hình những người có công khai sáng vùng đất này: kẻ đốn cây phá rừng ngập mặn, người vỡ ruộng đắp bờ, kẻ bủa lưới đánh cá, người chăn nuôi gia súc… được cung kính đặt lên kiệu, nối nhau khiêng đi. Còn có biểu trưng tàu thuyền viễn dương với những tay chèo vạm vỡ vượt sóng gió, làm sống lại những ngày đầu tàu thuyền bốn phương tới cảng thị buôn bán.

Sau rước biểu trưng, ban ngày thì các trò chơi dân gian nối tiếp diễn ra: đánh đu, kéo co, đấu võ, đấu vật, chơi cù, chọi gà, bắt vịt, nấu cơm thi, đập ấm, bịt mắt bắt dê… Có trò chơi tao nhã như thả thơ, xổ cổ nhơn, hô bài chòi, đánh cờ người, có trò tiếp nhận của người Hoa như: tục đổ giàn, đốt cây bông… Ban đêm, các gánh hát nổi tiếng được mời tới diễn tuồng…

Ngày nay, cảng thị Nước Mặn đã suy tàn. Vùng trung tâm cảng thị xưa gồm nhiều dãy phố chạy ngang dọc như bàn cờ, có dãy phố chuyên bán thuốc bắc, vàng bạc, tơ lụa… nay chỉ còn lưu giữ chút dấu tích ít ỏi: tảng đá to dựng đứng dưới chân hòn Kỳ Sơn là bến neo thuyền, chiếc cầu ngói vốn xưa bắc qua một nhánh của sông Cây Da, rồi chùa Bà, gò Dinh - nơi làm việc của quan trấn thủ cảng thị, dấu vết nhà thờ Nước Mặn, hai cây cổ thụ và một khu đất trống từng là chợ Nước Mặn tấp nập họp thường nhật… Tuy nhiên, Lễ hội Nước Mặn vẫn được duy trì như một gợi nhớ về một thời phồn thịnh thuở xưa.

Miếu thờ duy nhất còn lại ở vùng trung tâm cảng thị chỉ còn lại chùa Bà nên trong chùa thờ cả ba vị thần: Thiên Hậu ở gian giữa, Thành Hoàng và Bà Mụ ở hai gian hai bên. Phần tế lễ vẫn được tôn trọng và tiến hành theo ý nguyện. Ngày thứ hai mới là khai hội. Tuy nhiên, phần rước biểu trưng không còn, nhưng một số trò chơi truyền thống vẫn được tổ chức, ban đêm vẫn đón gánh hát bội về diễn trong những đêm hội. Ban Tổ chức lễ hội còn tổ chức thi đấu thể thao như bóng đá, bóng chuyền nên đã thu hút khá đông thanh niên tham gia.

Trong những ngày lễ hội, người dân khắp nơi đổ về An Hòa vừa dự lễ, đồng thời cũng là dịp đến thắp hương cầu xin một năm mới làm ăn tốt lành. Nhiều người hiếm muộn còn đến dự hội để cầu mong về đường con cái.

  • Khải Nhân
 
 
Đua thuyền trên sông Gò Bồi PDF. In Email
Viết bởi Nguyễn Phạm Kiên Trung   
Thứ bảy, 06 Tháng 2 2010 11:01

BĐNN Đến hẹn lại lên, sau phiên chợ Gò - Trường Úc (Tuy Phước) mỗi năm chỉ nhóm họp một lần vào mùng Một Tết Nguyên đán, thì mùng Hai Tết tại sông Gò Bồi (Phước Hòa) lại sôi nổi diễn ra cuộc tranh tài của ngư dân các xã Khu Đông huyện qua Hội đua thuyền truyền thống, thu hút hàng ngàn khách du xuân tham gia cổ vũ. Đây là hai hoạt động vui xuân, đón Tết đặc trưng của huyện Tuy Phước được tổ chức hàng năm và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân Tuy Phước trong ba ngày Tết. 


Sông Gò Bồi nằm trong hệ thống sông Kôn, bắt nguồn từ 2 nhánh sông Tân An và sông Gò Chàm hợp thành, chảy qua địa phận Gò Bồi thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, rồi đổ ra đầm Thị Nại. Trước 1957, Gò Bồi là vùng đất phồn thịnh “trên bến, dưới thuyền”, mực nước sông rất sâu nên ghe thuyền ở tận trong Nam, ngoài Bắc thường xuyên ghé vào đây mua bán trao đổi hàng hóa. Chợ Gò Bồi bấy giờ rất sầm uất… Chiến tranh tàn phá, Phước Hòa như các xã Khu Đông khác của Tuy Phước “đi dễ, khó về”, cảng thị dần hoang tàn đổ nát. Chiến thắng lịch sử Mùa Xuân 1975 đưa đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, đến nay Gò Bồi đã từng bước thay da đổi thịt phồn thịnh như xưa - là trung tâm kinh tế giao lưu mua bán của 7 xã vùng đông bắc Tuy Phước và các xã phía Đông của huyện Phù Cát - có tỉnh lộ 640, huyện lộ Gò Bồi - Bình Định và nhất là hiện nay, Khu kinh tế Nhơn Hội bước đầu đi vào hoạt động, góp phần tạo nên diện mạo mới cho Gò Bồi. 

Hàng năm, cứ vào ngày mùng Hai Tết Nguyên đán, trên sông Gò Bồi (vùng trung tâm chợ) lại nhộn nhịp, huyên náo hẳn lên bởi hàng ngàn người vừa khách thập phương vừa dân bản địa tập trung trên cầu, dưới bến hò reo cổ vũ cho Hội đua thuyền truyền thống diễn ra trên sông. Anh Phạm Thành Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao huyện Tuy Phước, cho biết: Hội đua thuyền ở đây có từ xa xưa, gắn bó mật thiết với cư dân ven đầm Thị Nại - nó khơi dậy truyền thống quê hương vùng sông nước trong đánh giặc ngoại xâm. Ngày nay, hội đua thuyền tôi luyện sức dẻo dai phục vụ đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy sản của ngư dân trong vùng. Mặt khác, đây cũng là hoạt động tinh thần thể hiện nét văn hóa đặc trưng của người dân biển… 

Hội đua thuyền trên sông Gò Bồi chỉ diễn ra mỗi năm một lần vào mùng Hai Tết. Vận động viên (VĐV) tham dự là những ngư dân trẻ, khỏe được tuyển chọn ở 4 xã Khu Đông Tuy Phước (Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa và Phước Thắng). Mỗi xã một đoàn từ 20 đến 25 VĐV tham gia các loại hình: Đua thuyền tập thể, đua sõng câu, thi bơi lội và thi bắt vịt trên nước. Thi bơi lội diễn ra đầu tiên với cự ly 1.500m đối với nam, 1.000m đối với nữ; đua sõng câu 4 lượt với 8 VĐV cự ly 1.500m; cuối cùng sôi động nhất vẫn là đua thuyền tập thể. Mỗi đội 11 VĐV (gồm 1 chỉ huy và cũng là người cầm lái giỏi, và 10 tay chèo) với 2 vòng đua, cự ly 1.500m. Thuyền tham gia đua được làm công phu với thiết kế đầu rồng, trang trí nhiều hoa văn đẹp mắt được chuẩn bị trước đó hàng tháng và do tập thể cả xã đầu tư - bởi chiếc thuyền đua là đại diện bộ mặt địa phương. Khi cờ lệnh phất, 4 thuyền rồng của 4 xã xuất phát cũng là lúc tiếng cổ vũ, tiếng hò reo, tiếng trống thúc giục làm sôi động cả vùng sông nước. 

Mừng xuân Đinh Hợi năm nay, Hội đua thuyền trên sông Gò Bồi vẫn được tổ chức hoành tráng như mọi năm. Ngoài các nội dung thi đấu cũ, để tạo thêm nét phong phú và không khí sôi động, Trung tâm VHTT-TT huyện Tuy Phước bổ sung thêm chương trình ca, múa nhạc, ngâm thơ… khai mạc hội - với chủ đề ngợi ca về những đổi thay của quê hương và đặc biệt là các đội tham gia môn đua thuyền tập thể, các tay chèo không chỉ là nam như những năm trước mà còn có sự tham gia của VĐV nữ. Điều này đã gây nhiều hứng thú ở các cổ động viên và tinh thần thi đua tập luyện môn đua thuyền ở nữ trong các xã Khu Đông huyện. 

Hội đua thuyền trên sông Gò Bồi và phiên chợ Gò Trường Úc là nét văn hóa đặc trưng trong dịp xuân về, Tết đến của người dân miền đất cuối nguồn sông Kôn này. 

(Theo Báo Bình Định)


 
 
LAST_UPDATED2
 
Hình ảnh Vua Quang Trung vào Thăng Long PDF. In Email
Viết bởi Nguyễn Phạm Kiên Trung   
Thứ hai, 25 Tháng 1 2010 10:59
 
 

Trong phong trào Tây Sơn, nhất là trong sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, Nguyễn Huệ lập công đầu. Hình ảnh Vua Quang Trung trong sự nghiệp giải phóng thành Thăng Long khỏi sự xâm lược của quân Mãn Thanh đã được thơ văn đương thời khắc họa rất đậm nét.

 

alt

Tái hiện hình ảnh Vua Quang Trung. Ảnh: Đào Tiến Đạt

 

Tháng 11.1788, 29 vạn quân Thanh chia làm 4 đạo, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy tràn vào xâm lược nước ta. Đến ngày 17.12, giặc Mãn chiếm thành Thăng Long.

Trước cảnh đất nước bị quân thù giày xéo, nhân dân Bắc Hà sôi sục căm hờn, hướng về nhà Tây Sơn và sẵn sàng tập hợp, chiến đấu bảo vệ đất nước dưới ngọn cờ đại nghĩa của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ.

Ngày 21.12.1788, tại Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nhận được tin báo khẩn cấp Thăng Long đã bị giặc chiếm. Ngày hôm sau, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc. Nhà vua  cho dừng quân tại Nghệ An hơn 10 ngày để bổ sung lực lượng, sau đó tiến ra Thanh Hóa. Tại đây, Vua Quang Trung ra lời dụ tướng sĩ, trong đó có đoạn: “Đánh cho để dài tóc,/ Đánh cho để đen răng./Đánh cho nó chích luân bất phản,/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn./Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Ngày 15.1.1789 (nhằm ngày 20 tháng chạp âm lịch), quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp (Ninh Bình) và chia làm 5 đạo tiến ra giải phóng Thăng Long. Trước khi xuất phát, Vua Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: “Nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên đán trước, đợi đến sang xuân, ngày mùng 7 vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn...”.

Đêm 25.1.1789 (đêm 30 Tết), quân ta mở màn chiến dịch tấn công tiêu diệt địch. Đêm mùng 3 Tết Kỷ Dậu, quân ta đánh chiếm đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Đông). Mờ sáng ngày mùng 5 Tết, quân ta bước vào trận quyết chiến, san phẳng đồn Ngọc Hồi nằm trên cửa ngõ phía nam Thăng Long. Cùng thời điểm trên, một đạo quân của ta bất ngờ bao vây, tiêu diệt đồn Khương Thượng (Đống Đa) ở phía tây nam thành Thăng Long, rồi như một mũi dao nhọn lao thẳng vào đại bản doanh Tôn Sĩ Nghị. Tướng giặc vô cùng khiếp sợ tháo chạy đến nỗi không kịp mặc áo giáp và đóng yên ngựa. 

Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Ngô Gia Văn Phái miêu tả hình ảnh Vua Quang Trung trên chiến trường như sau: “Nửa đêm ngày mùng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung tới làng Hà Hồi...Vua Quang Trung truyền lấy 60 tấm ván, cứ ghép liền 3 tấm thành một bức, tất cả là 20 bức. Đoạn kén hạng binh khỏe mạnh cứ 10 người khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn; 20 người khác đều cầm binh khí theo sau dàn thành trận “chữ nhất”. Vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng mùng 5 tiến vào đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nã súng bắn ra chẳng trúng người nào cả... Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn đâm chém giặc; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết… Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo vào thành…”.

Sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30.1.1789), thành Thăng Long sạch bóng quân thù. Ngồi trên bành voi, Vua Quang Trung cùng đạo quân chủ lực tiến vào kinh thành trước sự hân hoan chào đón của nhân dân. Chiến bào của người anh hùng nhuộm đen khói súng của những ngày đêm chiến đấu ác liệt. Lá cờ đào đã từng giương cao từ những ngày đầu khởi nghĩa và phấp phới tung bay theo bước đường thắng lợi của phong trào Tây Sơn, giờ lại dẫn đầu đoàn quân chiến thắng tiến vào Thăng Long.

Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày đại thắng như sau: “…Thần tốc, quân ta xông thẳng tới/Như trên trời xuống, ai dám đương./Một trận rồng lửa, giặc tan tành/Bỏ thành cướp sõng trốn cho nhanh./Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến, Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh./Mây tạnh mù tan trời lại sáng./Khắp thành già trẻ mặt bừng tươi,/Chen vai, khoác cánh cùng nhau nói: Kinh đô nay lại của ta rồi!”.

Góp phần to lớn vào sự nghiệp vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn: diệt chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trừ chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, khôi phục quốc gia thống nhất; nhanh chóng tiêu diệt quân xâm lược từ hai phương Nam và Bắc, bảo vệ độc lập dân tộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã được tôn vinh là một anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự, một danh tướng trăm trận trăm thắng, một vị minh quân chính trị, quân sự song toàn “Võ công oanh liệt gây nền vững /Chính sách tài tình để phép chung” nguyên văn hai câu thơ của Ngô Thì Nhậm: “Nhung y thần vũ lưu băng tạ/ Phương sách anh mô dịch hiến chương”.

  • Hoài Nam
 
 
Hình ảnh Vua Quang Trung vào Thăng Long PDF. In Email
Viết bởi Nguyễn Phạm Kiên Trung   
Thứ hai, 25 Tháng 1 2010 10:57
 
 

Trong phong trào Tây Sơn, nhất là trong sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, Nguyễn Huệ lập công đầu. Hình ảnh Vua Quang Trung trong sự nghiệp giải phóng thành Thăng Long khỏi sự xâm lược của quân Mãn Thanh đã được thơ văn đương thời khắc họa rất đậm nét.

 

alt

Tái hiện hình ảnh Vua Quang Trung. Ảnh: Đào Tiến Đạt

 

Tháng 11.1788, 29 vạn quân Thanh chia làm 4 đạo, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy tràn vào xâm lược nước ta. Đến ngày 17.12, giặc Mãn chiếm thành Thăng Long.

Trước cảnh đất nước bị quân thù giày xéo, nhân dân Bắc Hà sôi sục căm hờn, hướng về nhà Tây Sơn và sẵn sàng tập hợp, chiến đấu bảo vệ đất nước dưới ngọn cờ đại nghĩa của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ.

Ngày 21.12.1788, tại Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nhận được tin báo khẩn cấp Thăng Long đã bị giặc chiếm. Ngày hôm sau, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc. Nhà vua  cho dừng quân tại Nghệ An hơn 10 ngày để bổ sung lực lượng, sau đó tiến ra Thanh Hóa. Tại đây, Vua Quang Trung ra lời dụ tướng sĩ, trong đó có đoạn: “Đánh cho để dài tóc,/ Đánh cho để đen răng./Đánh cho nó chích luân bất phản,/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn./Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Ngày 15.1.1789 (nhằm ngày 20 tháng chạp âm lịch), quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp (Ninh Bình) và chia làm 5 đạo tiến ra giải phóng Thăng Long. Trước khi xuất phát, Vua Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: “Nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên đán trước, đợi đến sang xuân, ngày mùng 7 vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc lớn...”.

Đêm 25.1.1789 (đêm 30 Tết), quân ta mở màn chiến dịch tấn công tiêu diệt địch. Đêm mùng 3 Tết Kỷ Dậu, quân ta đánh chiếm đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Đông). Mờ sáng ngày mùng 5 Tết, quân ta bước vào trận quyết chiến, san phẳng đồn Ngọc Hồi nằm trên cửa ngõ phía nam Thăng Long. Cùng thời điểm trên, một đạo quân của ta bất ngờ bao vây, tiêu diệt đồn Khương Thượng (Đống Đa) ở phía tây nam thành Thăng Long, rồi như một mũi dao nhọn lao thẳng vào đại bản doanh Tôn Sĩ Nghị. Tướng giặc vô cùng khiếp sợ tháo chạy đến nỗi không kịp mặc áo giáp và đóng yên ngựa. 

Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Ngô Gia Văn Phái miêu tả hình ảnh Vua Quang Trung trên chiến trường như sau: “Nửa đêm ngày mùng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung tới làng Hà Hồi...Vua Quang Trung truyền lấy 60 tấm ván, cứ ghép liền 3 tấm thành một bức, tất cả là 20 bức. Đoạn kén hạng binh khỏe mạnh cứ 10 người khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn; 20 người khác đều cầm binh khí theo sau dàn thành trận “chữ nhất”. Vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng mùng 5 tiến vào đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nã súng bắn ra chẳng trúng người nào cả... Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn đâm chém giặc; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết… Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo vào thành…”.

Sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30.1.1789), thành Thăng Long sạch bóng quân thù. Ngồi trên bành voi, Vua Quang Trung cùng đạo quân chủ lực tiến vào kinh thành trước sự hân hoan chào đón của nhân dân. Chiến bào của người anh hùng nhuộm đen khói súng của những ngày đêm chiến đấu ác liệt. Lá cờ đào đã từng giương cao từ những ngày đầu khởi nghĩa và phấp phới tung bay theo bước đường thắng lợi của phong trào Tây Sơn, giờ lại dẫn đầu đoàn quân chiến thắng tiến vào Thăng Long.

Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày đại thắng như sau: “…Thần tốc, quân ta xông thẳng tới/Như trên trời xuống, ai dám đương./Một trận rồng lửa, giặc tan tành/Bỏ thành cướp sõng trốn cho nhanh./Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến, Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh./Mây tạnh mù tan trời lại sáng./Khắp thành già trẻ mặt bừng tươi,/Chen vai, khoác cánh cùng nhau nói: Kinh đô nay lại của ta rồi!”.

Góp phần to lớn vào sự nghiệp vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn: diệt chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trừ chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, khôi phục quốc gia thống nhất; nhanh chóng tiêu diệt quân xâm lược từ hai phương Nam và Bắc, bảo vệ độc lập dân tộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã được tôn vinh là một anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự, một danh tướng trăm trận trăm thắng, một vị minh quân chính trị, quân sự song toàn “Võ công oanh liệt gây nền vững /Chính sách tài tình để phép chung” nguyên văn hai câu thơ của Ngô Thì Nhậm: “Nhung y thần vũ lưu băng tạ/ Phương sách anh mô dịch hiến chương”.

  • Hoài Nam
(Theo báo Bình Định)
 
 
LAST_UPDATED2
 
“Thuyền cáng”: Một sáng tạo độc đáo của vua Quang Trung PDF. In Email
Viết bởi Nguyễn Phạm Kiên Trung   
Chủ nhật, 24 Tháng 1 2010 22:00
 
16:23', 12/1/ 2010 (GMT+7)

Theo Lê Triều dã sử thì khi tiến quân ra Thăng Long đánh quân Thanh, vua Quang Trung đã bày cho quân lính cứ ba người một tốp, thay phiên võng (cáng) nhau đi, thành ra quân trẩy liên miên không phải dừng mà ai nấy đều được nghỉ, do đó quân Tây Sơn hành quân cực kỳ thần tốc.

 

alt

Nghĩa quân Tây Sơn (hình ảnh Festival Tây Sơn-Bình Định 2008).

 

Nhiều người tin rằng đã có một cách hành binh đặc biệt như thế thật. Tức là cứ hai người võng (cáng) một người, thay phiên nhau mà đi, nên suốt dọc đường ra Bắc lúc nào cũng hành quân liên tục và lúc nào cũng có người được nằm võng nghỉ cho lại sức.

Nhưng cũng có nhiều người tỏ ra nghi ngờ cách hành binh này. Bởi vì mỗi người lính ra trận, ngoài binh khí bắt buộc phải mang theo (giáo mác, hỏa hổ…), người lính còn phải mang áo quần, tư trang, gạo nước (gọi chung là quân trang, quân dụng, quân lương) cho nên trên vai mỗi người ít nhất cũng phải 20-30 kg. Rồi lại còn phải trèo đèo lội suối nữa, vậy thì còn sức đâu mà cáng người. Không khéo vì phải cáng nhau mà làm chậm tốc độ hành quân, chứ nhanh hơn làm sao được. Mà người nằm trên cáng cũng chẳng cảm thấy thoải mái gì, thà đi bộ còn dễ chịu hơn? Trong  tác phẩm nghiên cứu “Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ”, các tác giả Nguyễn Lương Bích -Phạm Ngọc Phụng đã phân tích rất có lý: “Có tài liệu như Lê Triều dã sử  nói rằng, trong cuộc tiến quân từ Phú Xuân ra Bắc lần này, để hành binh nhanh chóng, Nguyễn Huệ đã cho quân dùng cáng, ba người một tốp thay phiên cáng nhau, khiến mọi người đều đi nhanh mà không bị mỏi”. Sự việc này không chắc có thật. Bởi vì cáng nhau mà đi thì không thể đi nhanh được bằng đi bộ rảo cẳng, càng không thể đi nhanh đều đặn trong thời gian nhiều ngày liền.  Cho nên, chúng tôi cho rằng việc cáng nhau mà đi chỉ là câu chuyện người đời sau viết sách tưởng tượng ra để giải thích tốc độ hành quân mau lẹ của quân Tây Sơn. Hoặc giả có những bộ phận quân đội dùng cáng chuyên chở quân trang, quân dụng, quân lương... để đem đi được nhiều nên nhân dân trông thấy, tưởng đoàn quân cáng nhau để hành quân nhanh. (Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ,  Nxb Quân đội Nhân dân, 2003, tr 246-247). Xin ghi thêm để bạn đọc tham khảo.

Quê tôi ở xứ Nghệ, nằm trên trục đường Thiên lý Bắc - Nam xưa. Thuở còn ấu thơ, tôi đã từng nghe các bậc già cả trong làng truyền ngôn lại câu chuyện về cuộc hành binh thần tốc kỳ lạ của vua Quang Trung:

Quân dung đâu mới lạ nhường

Mũ mao, áo đỏ, chật đường tiến ra .

Sở dĩ quân lính của Quang Trung được trang bị mũ lông (mũ mao) vì lúc này đang là mùa đông tháng chạp, trời rất rét (1).

 

alt

Một chiếc thuyền nan (cáng) ngày nay có thể đưa 3 người qua sông dễ dàng. (Ảnh: TTO).

 

Đó là cuộc hành binh có một không hai với hàng vạn người, quân đi điệp điệp trùng trùng như sóng. Có nhiều voi, ngựa, và đặc biệt là có nhiều chiếc cáng. Nói là cáng, nhưng thật ra không hẳn là cáng. Phải gọi là những chiếc thuyền nan thì đúng hơn. Hình dạng của nó thuôn nhỏ như chiếc thuyền câu của đồng bào vùng trũng Bắc bộ. Những chiếc thuyền nan này được đan bằng tre, chiều dài khoảng 6 thước (2,4m), rộng khoảng 2 thước (0,8m). Đan xong, người ta lấy vỏ một loại cây có nhựa, cùng với sợi  dây tơ hồng (một loại dây leo), giã nhỏ, trộn với phân trâu, bò thành một chất kết dính, trát kín thuyền rồi đem phơi khô (danh từ trong nghề gọi là “xảm”. Cứ ba người lính lập thành một tổ  (như tổ tam tam sau này) và được trang bị một chiếc thuyền. Chiếc thuyền này được coi như chiến cụ của cả tổ, các thành viên trong tổ có nhiệm vụ mang vác, bảo quản, vận chuyển suốt dọc đường hành quân. Để được thuận lợi, người ta buộc một chiếc đòn tre dài dọc theo thuyền. Bình thường hai người khiêng hai đầu đòn tre như khiêng cáng, trên thuyền là vũ khí cá nhân, dụng cụ, tư trang, gạo nước… của cả tổ.  Người dân từ xa nhìn vào tưởng là cáng người. Thật ra thì cũng có khi cáng người, nhưng rất ít. Đó là những trường hợp có người nào ốm yếu, mệt mỏi,  bị thương, thì có thể nằm lên cáng, để hai người khiêng đi. Tuy nhiên trường hợp này không nhiều. Ai cũng cố gắng không muốn để đồng đội phải khiêng mình.

Tác dụng tốt nhất của chiếc “thuyền cáng” là để vượt sông. Từ Phú Xuân ra Thăng Long đoàn quân phải vượt qua hàng chục con sông lớn và hàng trăm con sông nhỏ, rồi đầm, phá. Huy động làm sao đủ thuyền bè để đưa hàng chục vạn quân qua sông cùng một lúc? Mà bơi vượt sông thì  đang là mùa đông  (tháng Chạp) trời rất rét. Chính lúc này chiếc thuyền phát huy tác dụng. Quân đến bờ sông lập tức thuyền được hạ thủy, giáo mác làm mái chèo, cứ thế 3 người một thuyền sang sông chủ động, an toàn và đặc biệt là không bị ướt, rét. Dọc đường hành quân, mỗi khi trời mưa, chiếc thuyền cáng còn được úp lên đầu thành mái che mưa rất hữu hiệu.  Chiếc thuyền này còn có một tác dụng nữa: Đó là khi công đồn thì nó được dùng làm khiên, cản tên đạn của kẻ thù để cho quân ta tiến lên, rất có hiệu quả. Do chiếc “thuyền cáng” có nhiều công dụng như thế nên các tổ ba người luôn luôn bảo vệ nó, mang theo nó không bao giờ quên, như là một dụng cụ chiến đấu vậy.Vì thế mà có câu ca nói về tác dụng của  chiếc “thuyền  cáng” này:

Giúp quân thần tốc

Không kể ngày đêm

Đi đường làm cáng

Xuống nước là thuyền

Trời mưa làm lán

Xung trận thành khiên

Quân đi như nước

Trên cáng dưới thuyền. (2). .

Chiếc “thuyền cáng” trong cuộc hành quân thần tốc của vua Quang Trung có nhiều công dụng thật đặc biệt. Nó góp phần làm cho cuộc hành quân được mau lẹ, tạo yếu tố bí mật, bất ngờ, góp phần không nhỏ vào trận Đại thắng mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nó là một sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật quân sự tuyệt vời của Hoàng đế Quang Trung.

  • Phan Duy Kha

(Hà Nội)

 

Chú thích (1): Tác phẩm Đại Nam quốc sử diễn ca (của Lê Ngô Cát- Phạm Đình Toái) đặt câu này vào đoạn Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh vào tháng 6 . 1786 là chưa chính xác .Vì lúc này đang giữa mùa hè, khí hậu rất nóng nực, không ai lại đội mũ lông cả .

(2): Trong cuốn “Văn học dân gian Tây Sơn”, (Nxb Trẻ, 1999), khi đề cập đến cuộc hành binh thần tốc của quân đội Tây Sơn, các tác giả  cũng có đề cập đến chiếc cáng và nêu các công dụng của chiếc cáng gồm làm cáng, làm thuyền chở quân trang quân dụng khi vượt sông và đẻ che mưa…Như vậy là nêu được gần đủ tác dụng của chiếc cáng. Tư liệu khai thác ở hai vùng miền khác nhau nhưng cũng thống nhất nhau, chứng tỏ được độ tin cẩn của thông tin đã nêu.

(Theo báo Bình Định)
 
 
LAST_UPDATED2